Tóm tắt nội dung

Cơ cấu đo từ điện là một trong những cơ cấu chỉ thị cơ bản và được sử dụng phổ biến nhất để chế tạo các dụng cụ đo dòng điện và điện áp một chiều.
Với đặc tính nổi bật là quan hệ tuyến tính giữa góc quay và dòng điện, độ nhạy cao và khả năng đạt cấp chính xác đến 0,05, cơ cấu đo từ điện đóng vai trò nền tảng trong nhiều thiết bị đo lường từ microampe kế đến các hệ thống đo dòng điện công suất lớn.
1. Cấu tạo của cơ cấu đo từ điện
Phần tĩnh của cơ cấu đo từ điện là một mạch từ khép kín, gồm có một nam châm vĩnh cửu. Trên thực tế có nhiều kết cấu mạch từ khác nhau, nhưng đều có mục đích tạo ra một từ trường mạnh và đều ở khe hở giữa mạch từ (như minh họa trong Hình 1-1). Từ trường ở khe hở có giá trị từ 0,2 đến 0,4 Tesla, đây là mức từ cảm tương đối lớn so với nhiều loại cơ cấu đo khác.

Hình 1-1 thể hiện cấu tạo tổng thể của cơ cấu đo từ điện với các thành phần chính gồm: (1) Nam châm vĩnh cửu, (2) Quả đối trọng, (3) Lõi sắt non, (4) Khung dây, (5) Kim chỉ thị, (6) Thang chia độ, (7) Lò xo cản, (8) Giá đỡ, (9) Trục quay.
Giữa khe hở từ, người ta đặt một lõi sắt non hình trụ với mục đích giảm khe hở không khí và tăng từ trường ở khe hở. Bao quanh lõi sắt non đặt một khung dây hình chữ nhật. Khung dây thường làm bằng nhôm mỏng, trên đó quấn cuộn dây; dây quấn dùng dây êmay (dây đồng có bọc sơn cách điện) với đường kính dây từ 0,02 đến 0,25 mm tùy theo yêu cầu đo lường.
Trục quay gắn chặt vào khung dây; trên trục quay gắn lò xo cản ở phía trên và phía dưới khung dây. Lò xo cản có hai tác dụng: tạo mômen cản và làm nhiệm vụ dẫn điện vào khung dây. Lò xo được làm bằng hợp kim đồng có pha beryly, vật liệu này có tính đàn hồi tốt và ổn định theo nhiệt độ.
Lò xo cản được chế tạo thành hình xoắn ốc; một đầu gắn vào phần động của cơ cấu, còn đầu kia gắn vào giá đỡ cố định. Để giảm ma sát, tăng độ nhạy của cơ cấu, trục quay của khung dây được đặt trên ổ đỡ, đầu kia của trục quay được tì lên đá quý đặt trong ổ đỡ.
Để giảm ma sát tới đa, khung dây được treo bằng dây dẫn hồi (như minh họa trong Hình 1-2). Đây là biến thể thiết kế nâng cao, trong đó dây treo đồng thời đóng vai trò dẫn điện vào khung dây và tạo mômen hồi phục.

2. Nguyên lý làm việc của cơ cấu đo từ điện
2.1. Mômen quay và phương trình cân bằng
Khi cho dòng điện vào khung dây, từ trường ở khe hở không khí tác dụng lên dòng điện ở khung dây một lực điện từ; lực này tạo nên mômen quay và làm cho khung dây quay. Độ lớn của mômen quay được tính theo công thức:
$$M_q = \frac{dW_{dt}}{d\alpha} \tag{1-5}$$
Trong đó:
$W_{dt}$: năng lượng điện từ tích lũy của cơ cấu.
$\alpha$: góc quay do lực điện từ tạo ra.
Với điện một chiều, năng lượng điện từ được xác định theo biểu thức:
$$W_{dt} = I\psi = BSNI \tag{1-6}$$
Trong đó:
$I$: cường độ dòng điện.
$\psi$: từ thông móc vòng.
$B$: độ từ cảm.
$N$: số vòng dây của khung dây.
$S$: tiết diện mặt cắt ngang vuông góc với từ cảm của khe hở không khí.
Thay (1-6) vào (1-5), với $d\psi = BSN d\alpha$, ta có:
$$M_q = \frac{dW_{dt}}{d\alpha} = \frac{dI\psi}{d\alpha} = \frac{I d\psi}{d\alpha} = BSNI \frac{d\alpha}{d\alpha} = BSNI \tag{1-7}$$
Dưới tác dụng của mômen quay, khung dây quay làm cho lò xo cản xoắn lại, tạo ra mômen cản của lò xo. Mômen cản lò xo được biểu diễn theo công thức:
$$M_c = K\alpha \tag{1-8}$$
Trong đó:
$M_c$: mômen cản lò xo.
$K$: hệ số đàn hồi của lò xo.
$\alpha$: góc quay của khung dây.
Khi khung dây quay đến một vị trí nào đó sẽ cân bằng với mômen cản, ta có điều kiện cân bằng:
$$M_q = M_c \Rightarrow BSNI = K\alpha \tag{1-9}$$
$$\alpha = \frac{BSNI}{K} \tag{1-10}$$
Phương trình (1-10) là phương trình đặc tính thang đo của cơ cấu đo từ điện. Từ phương trình này có thể thấy rõ: góc quay $\alpha$ của khung dây tỉ lệ bậc nhất với dòng điện $I$ đi vào khung dây, đây chính là cơ sở lý thuyết giải thích tính tuyến tính của thang đo.
2.2. Đặc điểm của cơ cấu đo từ điện
Từ nguyên lý làm việc và phương trình đặc tính thang đo, cơ cấu đo từ điện có những đặc điểm kỹ thuật nổi bật sau:
Quan hệ giữa góc quay của khung dây và dòng điện đi vào khung dây là tuyến tính, vì thế thang chia độ của mặt số dụng cụ đo là đều, do đó có thể dễ dàng chế tạo dụng cụ đo có nhiều thang đo. Đây là ưu điểm quan trọng về mặt thực hành vì người sử dụng đọc số dễ dàng và chính xác hơn trên thang chia đều.
Độ nhạy của cơ cấu đo từ điện cao vì từ trường ở khe hở không khí lớn. Nhờ đặc điểm này, có thể chế tạo dụng cụ đo trực tiếp được dòng điện nhỏ như microampe kế và miliampe kế.
Độ chính xác cao, có thể chế tạo dụng cụ đo có độ chính xác đến cấp 0,05. Đây là cấp chính xác rất cao trong các thiết bị đo lường điện thông thường.
Tiêu thụ công suất nhỏ, giúp giảm ảnh hưởng của dụng cụ đo lên mạch điện cần đo.
Tuy nhiên, cơ cấu đo từ điện cũng có một số nhược điểm đáng lưu ý: kết cấu phức tạp, giá thành cao; khả năng chịu quá tải kém do cuộn dây của khung quay có tiết diện rất nhỏ; bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường làm thay đổi điện trở dây đồng trong khung dây; và chỉ đo được dòng điện một chiều theo đúng chiều đã xác định.
3. Ứng dụng cơ cấu đo từ điện để chế tạo dụng cụ đo dòng điện
3.1. Đo dòng điện một chiều nhỏ
Để đo dòng điện một chiều nhỏ, có thể đo trực tiếp dòng điện một chiều bằng các dụng cụ đo như microampe kế và miliampe kế. Đây là ứng dụng trực tiếp và đơn giản nhất của cơ cấu đo từ điện.
Để đo dòng điện một chiều lớn hơn dòng điện cho phép của cơ cấu đo, người ta mắc song song với cơ cấu đo một điện trở sun $R_s$ (như minh họa trong Hình 1-3). Cách chọn điện trở sun $R_s$ phù hợp với dòng điện cần đo và cơ cấu đo được xác định từ sơ đồ như sau:

Hình 1-3 thể hiện sơ đồ ampe kế từ điện có mắc song song điện trở sun, trong đó dòng điện tổng $I$ được phân chia thành dòng qua cơ cấu đo $I_{cc}$ và dòng qua điện trở sun $I_s$.
Từ sơ đồ Hình 1-3, ta có:
$$I_{cc}r_{cc} = I_sR_s \tag{1-11}$$
$$I_s = I - I_{cc} \tag{1-12}$$
Lấy (1-12) thay vào (1-11):
$$I_{cc}r_{cc} = (I - I_{cc})R_s \tag{1-13}$$
$$R_s = \frac{I_{cc} \cdot r_{cc}}{I - I_{cc}} \tag{1-14}$$
Hay có thể viết lại thành:
$$R_s = \frac{r_{cc}}{\frac{I}{I_{cc}} - \frac{I_{cc}}{I_{cc}}} = \frac{r_{cc}}{n - 1} \tag{1-15}$$
Trong đó:
$r_{cc}$: điện trở trong của cơ cấu.
$n = \frac{I}{I_{cc}}$: hệ số mở rộng thang đo.
$I$: dòng điện cần đo.
$I_s$: dòng điện đi qua điện trở sun $R_s$.
$R_s$: điện trở sun.
$I_{cc}$: dòng điện lớn nhất cho phép cơ cấu đo làm việc bình thường.
Hình 1-4 biểu thị sơ đồ ampe kế từ điện có 3 thang đo ($I_1, I_2, I_3$). Các điện trở sun $R_{s1}, R_{s2}, R_{s3}$ mắc nối tiếp nhau, sau đó nối song song với cơ cấu đo từ điện. Sử dụng công thức từ (1-11) đến (1-15) để tính các điện trở sun.

Để giữ cho cấp chính xác của ampe kế từ điện không thay đổi ở các giới hạn đo khác nhau, phải chế tạo điện trở sun có độ chính xác cao hơn độ chính xác của cơ cấu đo một cấp. Ví dụ: cấp chính xác của cơ cấu đo là 0,5 thì cấp chính xác của điện trở sun là 0,2.
Vì vậy, các điện trở sun làm bằng hợp kim đồng với mangan, gọi là mangannin. Với hợp kim này, điện trở của nó ít thay đổi theo nhiệt độ. Trong khi đó điện trở của khung dây làm bằng đồng nên thay đổi theo nhiệt độ theo công thức:
$$r_{cc} = r_{cc0}(1 + \alpha t^\circ C) \tag{1-16}$$
Trong đó:
$r_{cc}$: điện trở của cơ cấu ở $t^\circ C$.
$r_{cc0}$: điện trở của cơ cấu ở $0^\circ C$.
$\alpha$: hệ số nhiệt độ của dây đồng bằng $0,004/^\circ C$.
$t^\circ C$: nhiệt độ môi trường ở $t^\circ C$.
Ở những dụng cụ đo cấp chính xác cao, người ta phải tìm cách loại trừ sai số do nhiệt độ bằng cách mắc nối tiếp với cơ cấu đo một điện trở phi tuyến. Thực tế các ampe kế từ điện có độ chính xác cao thường bù nhiệt độ bằng điện trở đồng với điện trở hợp kim đồng với mangan. Trên sơ đồ Hình 1-5, các điện trở $R_1$, $R_2$, $R_s$ bằng mangannin; các điện trở $R_3$, $r_{cc}$ bằng đồng. Các điện trở này phải phối hợp với nhau sao cho khi dòng điện $I$ không đổi, nếu có sự thay đổi nhiệt độ thì dòng điện đi qua cơ cấu đo không thay đổi.

3.2. Đo dòng điện một chiều cực nhỏ
Đo dòng điện cực nhỏ cỡ $10^{-5} A$ đến $10^{-10} A$ là một thách thức kỹ thuật lớn. Để đo được dòng điện này phải có dụng cụ đo có độ nhạy cao. Hiện nay việc nâng cao độ nhạy, hạ thấp ngưỡng làm việc của dụng cụ đo, khuếch đại ổn định, có độ chính xác cao còn gặp nhiều khó khăn.
Hình 1-6 cho sơ đồ điện kế từ điện khung quay. Để tăng độ nhạy bằng cách giảm trọng lượng khung dây, người ta thay kim chỉ thị bằng hệ thống quang học, gồm có đèn chiếu sáng 1, trên dây treo 3 đặt gương phản chiếu 2. Khi khung dây quay, gương quay theo và phản chiếu ánh sáng lên mặt chia độ chỉ giá trị cần đo. Dòng điện cần đo được dẫn vào khung dây 5 trực tiếp nhờ dây treo 3 và dây không mô men 4. Với cấu trúc trên, độ nhạy của điện kế gương có thể đạt đến $10^{-12} \div 10^{-14} A/m$.

Để tăng độ nhạy hơn nữa, trong thực tế thường dùng các khuếch đại điện tử; dùng các linh kiện bằng bán dẫn, vi điện tử; dùng điện cần đo sau khi khuếch đại đưa vào điện kế. Ưu điểm của khuếch đại điện tử là có ngưỡng độ nhạy cao, nhưng có nhược điểm độ ổn định thấp, nhất là đối với khuếch đại bán dẫn nhiều đầu vào lớn, ảnh hưởng đến sự làm việc của khuếch đại.
Để giảm ảnh hưởng của nhiều đầu vào, thường dùng các bộ khuếch đại vi sai bằng vi điện tử, vì công nghệ vi điện tử đảm bảo hai bán dẫn đồng nhất. Ngoài ra còn dùng khuếch đại một chiều có điều chế với nhiều đầu vào từ 5 đến 10 micrôvôn.
3.3. Đo dòng điện một chiều lớn
Để đo dòng điện một chiều lớn có thể dùng phương pháp ghép song song nhiều điện trở sun, phương pháp này đơn giản nhưng không an toàn cho người sử dụng. Cũng có thể dùng phương pháp đo từ trường xung quanh dây dẫn, từ đó suy ra dòng điện cần đo. Phương pháp này có sai số và phụ thuộc vào tính chất phi tuyến của lõi sắt từ. Nếu đo từ trường bằng phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân thì độ chính xác đạt cao hơn.
Một phương pháp thông dụng để đo dòng điện một chiều lớn là dùng máy biến dòng một chiều. Thực chất máy biến dòng một chiều là khuếch đại từ; người ta thay dòng điều khiển khuếch đại từ bằng dòng điện một chiều cần đo; dùng ampe kế đo dòng điện xoay chiều (dòng điện làm việc) sẽ tính ra được dòng điện một chiều cần đo.
Hình 1-7 vẽ sơ đồ đo dòng điện một chiều lớn, sử dụng máy biến dòng một chiều gồm hai lõi hình xuyến I và II làm bằng vật liệu sắt từ (pecmalôi), có hệ số từ thẩm $\mu$ lớn. Trên đó quấn hai cuộn dây $W_1$ và $W_2$. Cuộn $W_2$ quấn trên lõi xuyến II ngược chiều với $W_2$ quấn trên lõi xuyến I.

$W_1$ mắc vào mạch một chiều có dòng điện cần đo $I_x$ chạy qua; $W_2$ mắc vào mạch xoay chiều $U_2$. Nguyên tắc làm việc của máy biến dòng một chiều như sau: dòng điện cần đo $I_x$ chạy qua $W_1$, tạo ra sức từ động $I_xW_1$ ở cả hai lõi từ I và II theo chiều như hình 1-7. Dòng điện xoay chiều $i_2$ đi qua $W_2$, tạo ra trong hai lõi hình xuyến I và II sức từ động $i_2W_2$. Phương trình cân bằng sức từ động của máy biến dòng một chiều:
$$I_xW_1 = i_2W_2 \tag{1-17}$$
$$I_x = \frac{i_2W_2}{W_1} \tag{1-18}$$
Dùng ampe kế đo dòng điện $i_2$, sẽ tính ra được dòng điện $I_x$ cần đo. Tỉ số $\frac{W_2}{W_1}$ gọi là hệ số biến dòng một chiều.
Ưu điểm của phương pháp dùng biến dòng một chiều là: đảm bảo an toàn cho người sử dụng; thay đổi thang đo dễ dàng bằng cách thay đổi số vòng dây $W_1$, $W_2$. Hiện nay đã có thể chế tạo máy biến dòng một chiều với dòng điện định mức từ 15 đến 70 kA, cấp chính xác 0,5.
4. Ứng dụng cơ cấu đo từ điện để chế tạo dụng cụ đo điện áp
4.1. Vôn kế từ điện đo điện áp một chiều
Hình 1-8 vẽ sơ đồ cấu tạo vôn kế từ điện. Để đặc trưng cho cơ cấu từ điện, trên sơ đồ ta thay thế bằng một cơ cấu chỉ thị và điện trở trong $r_{cc}$. Cần đo điện áp lớn hơn điện áp của cơ cấu $U_{cc}$, phải mắc nối tiếp với cơ cấu một điện trở phụ $R_p$. Tính giá trị điện trở phụ như sau:
$$I_{cc} = \frac{U_{cc}}{r_{cc}} = \frac{U_x}{r_{cc} + R_p} \tag{1-19}$$
$$R_p = r_{cc} \left[ \frac{U_x}{U_{cc}} - 1 \right] = r_{cc}(m - 1) \tag{1-20}$$

Trong đó:
$R_p$: điện trở phụ.
$r_{cc}$: điện trở trong của cơ cấu.
$I_{cc}$: Cường độ dòng điện đi qua cơ cấu.
$U_x$: điện áp cần đo.
$U_{cc}$: điện áp lớn nhất của cơ cấu. Với điện áp này cơ cấu làm việc bình thường và lâu dài.
$m = \frac{U_x}{U_{cc}}$: hệ số mở rộng thang đo.
Bằng phương pháp này, mắc nối tiếp với cơ cấu từ điện các điện trở phụ khác nhau, sẽ tạo ra các vôn kế từ điện có nhiều thang đo (Hình 1-9). Cách tính điện trở phụ $R_p$ theo công thức (1-20).

Hình 1-9 minh họa vôn kế từ điện có nhiều thang đo với các điện trở phụ $R_{p1}, R_{p2}, R_{p3}$ mắc nối tiếp lần lượt theo từng thang đo $U_{cc}, U_1, U_2, U_3$.
Các vôn kế từ điện đo trực tiếp điện áp một chiều có sai số đo nhiệt độ không đáng kể. Vì hệ số nhiệt độ của mạch vôn kế được xác định không chỉ là hệ số nhiệt độ dây quấn của cơ cấu từ điện, mà cả hệ số nhiệt độ của điện trở phụ. Điện trở phụ được chế tạo bằng mangan là vật liệu ít thay đổi theo nhiệt độ. Hơn nữa $r_{cc} \ll R_p$ nên việc thay đổi $r_{cc}$ ít ảnh hưởng đến toàn bộ mạch đo.
5.2. Những nguyên nhân hư hỏng và cách khắc phục
Trong thực tế khai thác và sử dụng, cơ cấu đo từ điện có thể xảy ra các dạng hư hỏng điển hình sau, kèm theo nguyên nhân và biện pháp xử lý tương ứng.
Hư hỏng dạng thứ nhất: cho dòng điện hoặc điện áp vào cơ cấu đo, kim đứng yên không chỉ giá trị nào. Nguyên nhân có thể là đứt khung dây; đứt dây dẫn phụ trong cơ cấu đo; đứt điện trở phụ của cơ cấu đo; đứt dây treo hoặc đứt lò xo cản; kẹt chặt khung dây vào cực từ hay lõi sắt non. Biện pháp xử lý là mở cơ cấu đo, tìm nguyên nhân hư hỏng và khắc phục.
Nếu đứt khung dây, có thể quấn lại khung dây. Nếu cơ cấu đo có khung nhôm, ta chỉ việc quấn dây lên khung nhôm; thường cỡ dây có tiết diện 0,03 mm, nên quấn trên máy quấn dây. Sau khi quấn xong, hàn dây treo hay trục quay, lò xo cản, tẩm sơn cách điện, sấy khô, sau đó tháo giá đỡ và lắp đặt vào cơ cấu đo.
Có nhiều cơ cấu đo từ điện không có khung nhôm mà chỉ có khung dây. Muốn quấn lại khung dây này, nếu không có khuôn sẵn ta có thể dùng đất sét nặn đúng bằng kích thước khung dây. Sau đó quấn khung dây lên khuôn đất sét đã phơi khô, quấn xong hàn các chi tiết cần thiết, tẩm sấy sơn cách điện, sau đó ngâm khung dây vào nước để đất sét tan ra để lại khung dây, sấy khô khung dây và lắp đặt vào dụng cụ đo.
Hư hỏng dạng thứ hai: cho dòng điện hoặc điện áp vào cơ cấu đo, cơ cấu đo chỉ sai giá trị cần đo. Nguyên nhân có thể là lò xo cản bị xoắn quá mức hoặc bị rối; từ cảm của nam châm vĩnh cửu bị giảm; lò xo cản thay đổi hệ số đàn hồi; tiếp xúc xấu ở mối nối nào đó. Biện pháp xử lý là mở đồng hồ tìm nguyên nhân hư hỏng và khắc phục.
Hư hỏng dạng thứ ba: cho dòng điện hoặc điện áp vào cơ cấu đo, kim chỉ một giá trị nào đó rồi mắc kẹt không trở về vị trí 0 khi không cho dòng điện vào cơ cấu. Nguyên nhân có thể là kẹt kim vào mặt đồng hồ hoặc kẹt ở lá gió cản dịu; kẹt khung dây vào mạch từ hay lõi sắt non. Biện pháp xử lý là tháo đồng hồ, nắn lại kim, chỉnh lại khung dây cho cân bằng, cân bằng lại lá gió.
Hư hỏng dạng thứ tư: khi cho dòng điện hoặc điện áp vào cơ cấu, kim chỉ thị dao động rất lâu mới ổn định, hoặc kim lệch quá về giá trị không, không điều chỉnh được. Nguyên nhân có thể là lá gió cản dịu bị hỏng; quả đối trọng cân bằng kim bị mất hoặc sai vị trí. Biện pháp xử lý là tháo đồng hồ thay lá gió, cân bằng lại kim.
Các nguyên nhân hư hỏng khác nếu phát hiện hỏng do nguyên nhân nào, sẽ khắc phục hư hỏng ở nguyên nhân đó. Sau khi khắc phục xong, phải cân chỉnh với dụng cụ đo mẫu có cấp chính xác cao hơn đồng hồ hư hỏng một cấp. Sau mỗi lần sửa chữa, phải cân chỉnh đồng hồ đo với đồng hồ mẫu để đảm bảo tính chính xác của phép đo.
Xem thêm bài viết liên quan:
BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
An toàn điện nhằm hạn chế các tai nạn điện đáng tiếc từ đó ngăn ngừa những tổn thương cho người sử dụng điện và các thiết bị máy móc. Trong khi các thiết bị điện làm việc, nếu không theo đúng những quy tắc [...]
1. Thuật ngữ dùng trong kỹ thuật chiếu sáng Kỹ thuật chiếu sáng là một mảng quan trọng trong thiết kế cung cấp điện, và để hiểu rõ hơn về nó, chúng ta cần tìm hiểu về các thuật ngữ và khái niệm [...]
1. Hiện trạng năng lượng hạt nhân thế giới Công nghệ hạt nhân sử dụng năng lượng được giải phóng ra từ phản ứng phân tách nguyên tử của một số nguyên tố. Công nghệ này được nghiên cứu đầu tiên vào những năm [...]
1. Khái quát lịch sử của những chiến lược chu trình nhiên liệu hạt nhân Vào cuối những năm 40 của thế kỷ trước, đã có chu trình nhiên liệu hạt nhân hoàn chỉnh với urani/plutoni được thiết lập ở một số nước, bao [...]
1. Khái quát về sự phát triển công nghệ lò Để phát triển năng lượng hạt nhân nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng trong tương lai, 10 nước - Achentina, Brazil, Canađa, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Phi, Thuỵ Sĩ, Anh và [...]
Hầu hết điện hạt nhân thế giới hiện đang được sản xuất sử dụng hai kiểu lò phản ứng được phát triển từ những năm 50 của thế kỷ trước và được cải thiện dần từ đó. Các mẫu thiết kế mới đang ngày càng [...]
1. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế - IAEA Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế với tên viết tắt IAEA (International Atomic Energy Agency) là tổ chức quốc tế tối cao nhất trong lĩnh vực hạt nhân, có trụ [...]
1. An toàn hạt nhân An toàn hạt nhân bao gồm các hành động nhằm ngăn chặn các sự cố bức xạ và hạt nhân hoặc để hạn chế hậu quả do các sự cố này gây ra. An toàn hạt nhân là vấn [...]
1. Chất thải phóng xạ Việc lưu giữ và chôn hủy chất thải hạt nhân an toàn vẫn còn là một thách thức và chưa có một giải pháp thích hợp. Chất thải quan trọng nhất phát sinh từ các nhà máy năng lượng [...]
1. Công nghệ lò phản ứng hạt nhân Lò phản ứng hạt nhân là thiết bị khởi đầu và điều khiển một phản ứng dây chuyền hạt nhân tự duy trì. Việc sử dụng các lò phản ứng hạt nhân phổ biến nhất là [...]
