Tóm tắt nội dung

Động Cơ Điện Không Đồng Bộ: Cấu Tạo & Nguyên Lý

Động cơ điện không đồng bộ là loại máy điện xoay chiều được sử dụng phổ biến nhất trong công nghiệp và đời sống hiện đại. Theo thống kê, động cơ không đồng bộ chiếm khoảng 90% lượng điện tiêu thụ của toàn bộ các động cơ điện trong dải công suất từ 0,75 kW đến 375 kW.

Tại các nước công nghiệp phát triển, động cơ điện nói chung chiếm tới 40% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc.

Sức hút của loại máy điện này xuất phát từ những ưu điểm rất thực tế: cấu tạo đơn giản, không cần chổi than hay vành trượt phức tạp ở phiên bản rôto lồng sóc, giá thành chế tạo thấp, độ tin cậy cao, chi phí vận hành và bảo trì thấp, đồng thời vẫn đáp ứng được dải công suất rất rộng từ vài watt đến hàng nghìn kilowatt.

Bài viết này trình bày một cách hệ thống về cấu tạo, nguyên lý làm việc và các đặc điểm kỹ thuật quan trọng của động cơ điện không đồng bộ dựa trên nền tảng lý thuyết máy điện cổ điển, với các phân tích và dẫn chứng công thức cụ thể để phục vụ nhu cầu học tập và tra cứu kỹ thuật.

1. Khái niệm và phân loại

Động cơ điện không đồng bộ (còn gọi là motor không đồng bộ, motor cảm ứng) là máy điện xoay chiều làm việc theo nguyên lý cảm ứng điện từ, trong đó tốc độ quay của rôto N2​ luôn khác (nhỏ hơn) tốc độ quay của từ trường quay N1 do stato tạo ra.

Chính sự chênh lệch tốc độ này là điều kiện bắt buộc để máy sinh ra mô men và hoạt động được, và đây cũng là lý do loại máy này mang tên “không đồng bộ”.

Khác với máy điện đồng bộ, dây quấn rôto của động cơ không đồng bộ không được nối trực tiếp với lưới điện mà nhận điện hoàn toàn thông qua cảm ứng điện từ, do đó người ta cũng gọi loại máy này là động cơ cảm ứng (Induction Motor).

1.1. Phân loại theo số pha

Về số pha nguồn điện cấp vào dây quấn stato, động cơ không đồng bộ được chia thành hai loại chính.

Loại ba pha (3P) chiếm ưu thế tuyệt đối trong công nghiệp nhờ hiệu suất cao, mô men đều và khả năng tự khởi động.

Loại một pha (1P) được dùng phổ biến trong dân dụng, thiết bị gia dụng và các ứng dụng công suất nhỏ; tuy nhiên loại này không thể tự khởi động nếu chỉ có một cuộn dây nên cần thêm giải pháp kỹ thuật để tạo mô men khởi động, điều này sẽ được phân tích riêng ở phần sau.

1.2. Phân loại theo cấu tạo rôto

Theo kết cấu rôto, động cơ không đồng bộ được chia làm hai loại: động cơ rôto lồng sóc và động cơ rôto dây quấn. Stato của cả hai loại có cấu tạo hoàn toàn giống nhau; sự khác biệt chỉ nằm ở phần rôto.

Loại rôto lồng sóc có cấu tạo đơn giản, bền vững, giá thành rẻ nhưng khả năng điều chỉnh đặc tính mô men khi khởi động bị hạn chế.

dong-co-dien-khong-dong-bo-roto-long-soc-cau-tao
Hình 1. Động cơ điện không đồng bộ rôto lồng sóc

Loại rôto dây quấn có khả năng đưa thêm điện trở hoặc điện kháng ngoài vào mạch rôto qua vành trượt và chổi than, nhờ đó cải thiện được đặc tính khởi động và điều chỉnh tốc độ, nhưng cấu tạo phức tạp hơn và chi phí bảo trì cao hơn.

dong-co-dien-khong-dong-bo-roto-long-soc-cau-tao
Hình 2. Động cơ điện không đồng bộ rôto dây quấn

2. Cấu tạo

2.1. Stato (phần tĩnh)

Stato là phần đứng yên của động cơ, bao gồm ba bộ phận chính: vỏ máy, lõi thép và dây quấn.

Vỏ máy là nơi bảo vệ lõi thép, cố định lõi thép và là nơi ghép nối nắp máy, gối đỡ trục. Vỏ máy có thể làm bằng gang, nhôm hoặc thép, được chế tạo bằng phương pháp đúc hoặc rèn. Về kiểu vỏ, có hai loại phổ biến: vỏ kiểu kín và vỏ kiểu bảo vệ.

Vỏ máy kiểu kín yêu cầu diện tích tản nhiệt lớn, vì vậy trên bề mặt vỏ được đúc thêm nhiều gân tản nhiệt. Vỏ máy kiểu bảo vệ có bề mặt ngoài nhẵn, gió làm mát thổi trực tiếp lên bề mặt ngoài lõi thép và trong vỏ máy.

Lõi thép stato có dạng hình trụ, được làm từ các lá thép kỹ thuật điện ghép lại với nhau. Giữa các lá thép có cách điện để hạn chế dòng điện Phucô (Foucault) gây tổn hao sắt từ. Chiều dày mỗi lá thép tiêu chuẩn thường là 0,5 mm.

Chức năng của lõi thép là dẫn từ và là nơi để lấy chỗ dựa cho dây quấn. Vì vậy, yêu cầu của lõi thép là phải dẫn từ tốt, tổn hao sắt từ nhỏ và có kết cấu chắc chắn. Trên bề mặt trong của lõi thép có các rãnh để chứa dây quấn.

Dây quấn stato là bộ phận chứa dòng điện xoay chiều và tạo ra từ trường quay trong máy. Dây quấn được làm bằng dây đồng có bọc cách điện, được đặt trong các rãnh của lõi thép và cách điện với lõi thép.

Đầu ra của dây quấn được nối ra các hộp cực ở vỏ máy. Tùy theo điện áp nguồn và yêu cầu vận hành, dây quấn stato được đấu theo hình sao (Y) hoặc tam giác (Δ). Với động cơ không đồng bộ công suất nhỏ (đến hàng kW), nắp máy đồng thời là gối đỡ trục, nắp máy được chế tạo bằng gang hoặc thép.

dau-ra-day-quan-stato-noi-sao-tam-giac-dong-co-khong-dong-bo
Hình 3. Các đầu ra của dây quấn và cách chuyển cầu nối dây để có được nối hình sao Y hay tam giác Δ

Nắp máy được lắp ghép với thân máy qua gờ lắp thân, mối lắp ghép này cùng với ổ bi xác định vị trí của rôto so với stato, là mối lắp ghép quan trọng quyết định sự làm việc ổn định và lâu dài của động cơ.

2.2. Rôto (phần quay)

Rôto của động cơ không đồng bộ bao gồm lõi thép, dây quấn và trục. Với động cơ rôto dây quấn, trên trục còn có thêm các vành trượt gắn trên trục.

Lõi thép rôto cũng được ghép từ các lá thép kỹ thuật điện tương tự lõi thép stato. Điểm khác biệt quan trọng so với stato là giữa các lá thép không có cách điện, bởi vì tần số làm việc ở rôto rất thấp, chỉ vài Hz, nên tổn hao do dòng điện Phucô trong lõi rôto rất thấp và không đáng kể. Ở mặt ngoài rôto có xẻ các rãnh để chứa dây quấn.

2.2.1. Rôto lồng sóc

Dây quấn lồng sóc (hay dây quấn ngắn mạch) thường được đúc bằng nhôm. Các đầu thanh nhôm ở hai phía được đúc ngắn mạch, tạo thành vành ngắn mạch và có các cánh để quạt thông gió khi rôto quay.

Đối với động cơ nhỏ, rôto được đúc nguyên khối gồm cả thanh dẫn, vành ngắn mạch, cánh tản nhiệt và cánh quạt làm mát.

cau-tao-roto-ngan-mach-long-soc-day-quan-thanh-nhom
Hình 4. Cấu tạo rôto ngắn mạch: a) Dây quấn lồng sóc; b) Rôto lồng sóc gồm dây quấn và lõi thép.

Ngoài ra, rôto lồng sóc còn được chế tạo từ đồng hợp kim có điện trở suất cao, nhằm mục đích nâng cao mô men mở máy. Rôto thanh đồng có độ tin cậy cao, tránh được hiện tượng rỗ do đúc, nhưng ít được dùng vì khó chế tạo và giá thành cao.

Rãnh của rôto lồng sóc có nhiều hình dạng khác nhau như hình tròn, hình quả lê, hình ôvan. Các máy lớn còn có rôto lồng sóc kép với hai lồng sóc chồng nhau, nhằm cải thiện đặc tính mô men khởi động trong khi vẫn duy trì hiệu suất tốt ở chế độ làm việc định mức.

2.2.2. Rôto dây quấn

Dây quấn rôto dạng dây quấn được quấn các cuộn dây tương tự như dây quấn stato, với các thông số tương đương như số cực 2P, số pha. Dây quấn rôto thường được nối thành hình sao, ba đầu dây ra của ba pha được đưa ra ba vành trượt đặt trên trục.

Các vành trượt được cách điện với nhau và cách điện với trục. Thông qua các vành trượt, người ta đưa điện vào rôto qua điện trở phụ, để hạn chế dòng điện mở máy và điều chỉnh tốc độ quay của động cơ. Việc sửa chữa dây quấn rôto hoàn toàn tương tự như dây quấn stato.

2.2.3. Trục máy

Trục máy được chế tạo từ thép các-bon. Trên trục có gắn lõi thép rôto, dây quấn, vành trượt và quạt gió, vì vậy trục là một chi tiết quan trọng của động cơ và phải đảm bảo độ bền cơ học cao.

3. Nguyên lý làm việc

3.1. Từ trường quay và tốc độ đồng bộ

Khi đưa dòng điện xoay chiều ba pha vào dây quấn ba pha stato, trong dây quấn xuất hiện hệ thống dòng điện ba pha. Hệ thống dòng điện này tạo ra từ trường quay với tốc độ:

$$n_1 = \frac{60f_1}{P} \tag{1}$$

Trong đó: $f_1$ là tần số nguồn điện vào (Hz); $P$ là số đôi cực của máy.

Nếu tần số nguồn điện $f_1 = 50$ Hz (tiêu chuẩn tại Việt Nam theo TCVN), thì:

$$n_1 = \frac{3000}{P} \text{ (vòng/phút)} \tag{2}$$

Ví dụ: với $P = 1$ cặp cực, $n_1 = 3000$ vòng/phút; với $P = 2$ cặp cực, $n_1 = 1500$ vòng/phút; với $P = 3$ cặp cực, $n_1 = 1000$ vòng/phút. Đây là các tốc độ đồng bộ tiêu chuẩn thường gặp trong thực tế.

Chiều quay của từ trường phụ thuộc vào thứ tự pha của điện áp lưới điện đặt lên dây quấn stato. Khi đổi hai trong ba đầu dây nguồn cấp vào động cơ, thứ tự pha thay đổi và từ trường quay đảo chiều, kéo theo rôto đảo chiều quay. Đây là nguyên tắc cơ bản để đảo chiều động cơ không đồng bộ trong thực tế vận hành.

3.2. Quá trình cảm ứng và sinh mô men

Từ trường quay của stato, cảm ứng trong dây quấn rôto một sức điện động E (chiều sức điện động xác định theo quy tắc bàn tay phải). Vì dây quấn rôto nối ngắn mạch (với rôto lồng sóc) hoặc nối qua điện trở phụ (với rôto dây quấn), nên trên thanh dẫn rôto hình thành dòng điện lớn.

Sự tác động tương hỗ giữa dòng điện của rôto với từ trường của stato tạo ra các lực điện từ tác dụng lên thanh dẫn theo phương tiếp tuyến với bề mặt rôto, tạo ra mô men, làm cho rôto quay. Chiều quay của rôto theo chiều quay của từ trường, như được minh họa trên Hình 6.

nguyen-ly-lam-viec-dong-co-dien-khong-dong-bo-tu-truong-quay
Hình 6. Nguyên lý làm việc của động cơ điện không đồng bộ

Điều quan trọng cần hiểu rõ là tốc độ của rôto n2​ luôn nhỏ hơn tốc độ quay của từ trường n1​. Sở dĩ như vậy là vì: nếu tốc độ quay của rôto bằng tốc độ của từ trường. Có thể xem cuộn dây của rôto và từ trường đứng yên tương đối với nhau, khi đó không xảy ra hiện tượng cảm ứng điện từ trong cuộn dây rôto, không có dòng điện trong rôto, và do đó không có lực điện từ cũng như mô men.

Chỉ trong trường hợp tốc độ quay của rôto nhỏ hơn tốc độ quay của từ trường mới xảy ra sự cảm ứng sức điện động trong dây quấn rôto, và từ đó sinh ra dòng điện, lực điện từ và mô men. Đây chính là lý do tên gọi “không đồng bộ” phản ánh đúng bản chất vật lý của loại máy điện này.

3.3. Hệ số trượt

Hiệu số tốc độ quay của từ trường stato và rôto được đặc trưng bằng một đại lượng gọi là hệ số trượt $s$:

$$s = \frac{n_1 - n_2}{n_1} \tag{3}$$

Trong đó: $s$ là hệ số trượt; $n_1$ là tốc độ quay của từ trường stato (vòng/phút); $n_2$ là tốc độ quay của rôto (vòng/phút).

Hệ số trượt của động cơ không đồng bộ có trị số nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Khi $s = 0$, tốc độ rôto bằng tốc độ từ trường, đây là chế độ không tải lý tưởng. Khi $s = 1$, rôto đứng yên ($n_2 = 0$) và mô men trên trục bằng mô men mở máy. Khi động cơ quay ở tải định mức, hệ số trượt định mức nằm trong khoảng 0,01 ÷ 0,06 (tức là từ 1% đến 6%), phụ thuộc vào công suất và thiết kế của động cơ. Từ công thức (3) có thể tính được tốc độ quay của động cơ không đồng bộ:

$$n_2 = n_1(1 - s) \tag{4}$$

Ví dụ minh họa: Trên nhãn động cơ ghi $f = 50$ Hz, $n_{đm} = 1440$ vòng/phút. Từ đây ta hiểu ngay tốc độ đồng bộ $n_1 = 1500$ vòng/phút, số đôi cực $P = \frac{3000}{1500} = 2$, và hệ số trượt định mức:

$$s = \frac{n_1 - n_2}{n_1} \times 100 = \frac{1500 - 1440}{1500} \times 100 = 4\%$$

3.4. Tần số dòng điện trong rôto

Một đặc điểm quan trọng là dòng điện trong rôto không có cùng tần số với dòng điện trong stato, mà có tần số $f_2$ rất nhỏ, phụ thuộc vào hệ số trượt $s$ của rôto với từ trường stato, tức là phụ thuộc vào hiệu số $n_1 - n_2$:

$$f_2 = \frac{P(n_1 - n_2)}{60} \tag{5}$$

Trong đó: $f_2$ là tần số dòng điện trong rôto; $P$ là số đôi cực; $n_1$ là tốc độ quay của từ trường; $n_2$ là tốc độ quay của rôto.

Từ công thức (1) và (3), ta có thể biến đổi công thức (5) theo hệ số trượt:

$$f_2 = \frac{P(n_1 - n_2)}{60} = \frac{P(n_1 - n_2)}{60} \cdot \frac{n_1}{n_1} = \frac{(n_1 - n_2)}{n_1} \cdot \frac{Pn_1}{60} = s \cdot f_1 \tag{6}$$

Như vậy, tần số dòng điện rôto tỉ lệ với hệ số trượt $s$ và rất nhỏ. Ví dụ: với hệ số trượt $s = 0,04$ và tần số nguồn $f_1 = 50$ Hz, thì $f_2 = 0,04 \times 50 = 2$ Hz. Đây là một trong những lý do tại sao lõi thép rôto không cần cách điện giữa các lá thép vì tổn hao sắt từ ở tần số 2 Hz là không đáng kể.

Dòng điện rôto tạo ra sức từ động rôto quay với tốc độ $n_s$ so với rôto:

$$n_s = \frac{60f_2}{P} = \frac{60 \cdot sf_1}{P} = n_1s \tag{7}$$

Tốc độ quay của sức từ động rôto trong không gian bằng:

$$n_s + n_2 = n_1s + n_1(1 - s) = n_1 \tag{8}$$

Nghĩa là sức từ động rôto quay trong không gian với tốc độ đồng bộ và không phụ thuộc vào tốc độ quay của rôto. Nói cách khác, trong động cơ không đồng bộ, các sức từ động do rôto và stato tạo ra quay đồng bộ với nhau với tốc độ n1 và tạo thành một từ trường thống nhất.

4. Một số đặc điểm của động cơ không đồng bộ

4.1. Đặc điểm về dây quấn rôto không nối với lưới điện

Đặc điểm quan trọng và cũng là bản chất của động cơ không đồng bộ là dây quấn rôto không được nối trực tiếp với lưới điện. Sức điện động và dòng điện có được trong rôto là do cảm ứng, chính vì vậy người ta gọi động cơ loại này là động cơ cảm ứng. Tần số dòng điện trong rôto rất nhỏ, nó phụ thuộc vào hệ số trượt $s$ của rôto với từ trường stato theo công thức (6) đã phân tích ở trên. Ở chế độ làm việc định mức với hệ số trượt $s_{đm} = 0,01 \div 0,06$, tần số dòng điện rôto chỉ đạt $f_2 = 0,5 \div 3$ Hz khi $f_1 = 50$ Hz.

4.2. Đặc điểm về chế độ máy phát điện

Động cơ không đồng bộ có thể làm việc ở chế độ máy phát điện. Nếu dùng một động cơ khác kéo động cơ không đồng bộ quay với tốc độ lớn hơn tốc độ đồng bộ (n2​>n1​) và các đầu ra của động cơ được nối với lưới điện, thì lúc đó hệ số trượt s<0 và máy làm việc ở chế độ máy phát điện, phát điện trả về lưới. Động cơ không đồng bộ cũng có thể trở thành máy phát điện độc lập nếu ở đầu ra của động cơ được kích từ bằng các tụ điện.

Tuy nhiên, máy phát điện không đồng bộ làm việc không ổn định và ít được sử dụng trong thực tế, nhất là ở chế độ làm việc độc lập, bởi vì muốn máy điện không đồng bộ ba pha làm việc độc lập phải tiến hành kích từ cho máy; đây chính là nhược điểm lớn nhất của máy phát điện không đồng bộ dẫn đến việc ít được ứng dụng trong hệ thống nguồn cung cấp điện.

4.3. Đặc điểm về chế độ một pha

Về mặt kết cấu, động cơ điện không đồng bộ một pha không khác mấy so với động cơ không đồng bộ ba pha. Điểm khác biệt căn bản là động cơ không đồng bộ một pha không thể tự mở máy được.

Nguyên nhân là vì nguồn điện xoay chiều một pha chỉ tạo ra từ trường đập mạch chứ không phải từ trường quay tròn như nguồn ba pha; từ trường đập mạch có thể phân tích thành hai từ trường quay ngược chiều nhau với cùng biên độ và tốc độ, dẫn đến mô men do hai từ trường này gây ra triệt tiêu nhau ở trạng thái đứng yên.

Do đó, trên dây quấn stato của động cơ một pha, ngoài cuộn dây chính (cuộn làm việc) còn có quấn thêm dây quấn khởi động (cuộn phụ). Dây quấn khởi động này được nối với các phần tử như tụ điện hoặc điện trở để tạo sự lệch pha giữa hai cuộn dây, qua đó tạo ra thành phần từ trường quay một chiều chiếm ưu thế và sinh ra mô men khởi động cho động cơ. Cụ thể:

Với động cơ khởi động bằng điện trở (resistance start motor): điện trở được mắc nối tiếp với cuộn phụ để tạo lệch pha giữa dòng điện cuộn chính và cuộn phụ, sau khi đạt tốc độ định mức thì điện trở và cuộn phụ được ngắt ra khỏi mạch. Loại này có cấu tạo đơn giản, giá thành rẻ nhưng mô men khởi động không lớn.

Với động cơ khởi động bằng tụ điện (capacitor start motor): tụ điện được mắc nối tiếp với cuộn phụ, tạo lệch pha gần 90 độ giữa dòng điện hai cuộn dây để sinh ra mô men khởi động mạnh. Sau khi đạt tốc độ nhất định, tụ điện và cuộn phụ được ngắt ra. Loại này phù hợp với các thiết bị yêu cầu mô men khởi động lớn như bơm nước, máy ép, máy nén nhỏ.

Với động cơ có tụ làm việc (permanent split capacitor motor): tụ điện duy trì kết nối trong suốt quá trình vận hành, giúp tạo ra mô men xoắn ổn định, vận hành êm ái, hiệu suất cao.

Với động cơ có cả tụ khởi động và tụ làm việc: đây là sự kết hợp ưu điểm của hai loại trên, đảm bảo mô men khởi động mạnh đồng thời duy trì hiệu suất làm việc tốt.

5. Thông số định mức và tiêu chuẩn hiệu suất

5.1. Các thông số định mức

Cũng như tất cả các loại máy điện khác, động cơ không đồng bộ có các trị số định mức đặc trưng cho điều kiện kỹ thuật của máy. Các trị số này do nhà máy thiết kế, chế tạo quy định và được ghi trên nhãn máy. Các thông số định mức bao gồm: công suất định mức (kW) là công suất trên đầu trục động cơ; điện áp định mức (V) và dòng điện định mức (A) là điện áp và dòng điện dây tương ứng với kiểu đấu hình sao hoặc tam giác; tốc độ định mức (vòng/phút); tần số nguồn điện (Hz); hệ số công suất $\cos \varphi$ định mức; hiệu suất định mức $\eta$.

Ví dụ, một động cơ không đồng bộ ba pha ghi trên nhãn: $P_{đm} = 15$ kW, $U_{đm} = 380/220$ V (Y/$\Delta$), $f = 50$ Hz, $n_{đm} = 1450$ vòng/phút, $\cos \varphi = 0,87$. Từ đây ta suy ra: tốc độ đồng bộ $n_1 = 1500$ vòng/phút, số đôi cực $P = 2$, hệ số trượt $s = (1500 - 1450)/1500 \approx 3,3\%$; ở chế độ điện áp 380 V thì đấu sao (Y), còn ở 220 V thì đấu tam giác ($\Delta$).

Mô men định mức trên trục động cơ được tính theo công thức:

$$M_{đm} = \frac{9550 \cdot P_{đm}}{n_{đm}} \quad (\text{N} \cdot \text{m}) \tag{9}$$

Ví dụ với động cơ trên: $M_{đm} = \frac{9550 \times 15}{1450} \approx 98,8 \text{ N} \cdot \text{m}$.

5.2. Tiêu chuẩn hiệu suất IEC 60034-30

Nhận thức được tầm quan trọng của động cơ không đồng bộ đối với tiêu thụ điện năng toàn cầu, năm 2008 Ủy ban Kỹ thuật Điện Quốc tế (IEC) đã ban hành tiêu chuẩn EN 60034-30:2008 để phân loại mức hiệu suất động cơ không đồng bộ ba pha. Tiêu chuẩn này được cập nhật thành EN 60034-30-1:2014, áp dụng cho dải công suất từ 0,75 kW đến 375 kW. Theo tiêu chuẩn này, động cơ được phân thành bốn cấp hiệu suất:

Cấp hiệu suất Tên gọi Mô tả
IE1 Standard Efficiency Hiệu suất tiêu chuẩn, tương đương EFF2 cũ
IE2 High Efficiency Hiệu suất cao, tương đương EFF1 cũ
IE3 Premium Efficiency Hiệu suất đặc biệt, tiết kiệm điện tối ưu
IE4 Super Premium Efficiency Hiệu suất siêu cao, đang trong giai đoạn phổ biến

Theo quy định của Liên minh Châu Âu, từ tháng 1 năm 2017 trở đi, với động cơ có dải công suất từ 0,75 đến 375 kW, cấp IE3 là bắt buộc (hoặc IE2 nếu các động cơ này kết hợp sử dụng với bộ biến tần).

Tiêu chuẩn IE cũng đặt ra yêu cầu về phương pháp đo hiệu suất theo IEC 60034-2-1:2014. Việc nâng cấp từ IE1 lên IE2 hoặc IE3 đòi hỏi cải tiến về chất lượng vật liệu lõi thép, tăng tiết diện dây đồng dây quấn và tối ưu hóa thiết kế khe hở không khí, dẫn đến tăng khối lượng và chi phí sản xuất nhưng bù lại bằng tiết kiệm điện năng đáng kể trong suốt vòng đời thiết bị.

6. Ứng dụng thực tế

Nhờ những ưu điểm kể trên, động cơ không đồng bộ được ứng dụng cực kỳ rộng rãi. Trong công nghiệp, loại máy này dùng để kéo các máy bơm nước, quạt gió công nghiệp, máy nén khí, băng tải, máy cán, máy tiện, máy mài, cầu trục, thang máy và vô số máy móc thiết bị sản xuất khác.

Trong lĩnh vực điện gió, máy phát điện không đồng bộ rôto dây quấn được ứng dụng trong một số loại tuabin gió (DFIG – Doubly Fed Induction Generator) nhờ khả năng điều chỉnh tốc độ linh hoạt kết hợp biến tần.

Trong dân dụng, động cơ không đồng bộ một pha hiện diện trong hầu hết các thiết bị gia dụng quen thuộc: máy bơm nước sinh hoạt, quạt điện, máy giặt, điều hòa không khí, tủ lạnh, máy hút bụi, máy khoan cầm tay.

Dải công suất của động cơ không đồng bộ rất rộng, từ vài watt (trong thiết bị điện tử dân dụng) cho đến hàng ngàn kilowatt (trong công nghiệp nặng).

Do kỹ thuật điện tử công suất hiện nay rất phát triển, đặc biệt là biến tần (inverter), động cơ không đồng bộ đã đáp ứng được những yêu cầu phức tạp về điều chỉnh tốc độ mà trước đây chỉ có thể thực hiện được bằng động cơ một chiều, càng làm cho loại động cơ này trở nên phổ biến hơn.

Xu hướng ứng dụng biến tần kết hợp với động cơ không đồng bộ đạt chuẩn IE3, IE4 không chỉ mang lại hiệu quả điều khiển tốc độ linh hoạt mà còn góp phần tiết kiệm điện năng đáng kể, phù hợp với định hướng phát triển bền vững và tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp.

7. Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao tốc độ rôto của động cơ không đồng bộ luôn nhỏ hơn tốc độ từ trường?

Nếu tốc độ rôto bằng tốc độ từ trường, hai thứ đứng yên tương đối với nhau, không xảy ra cảm ứng điện từ trong dây quấn rôto, không có dòng điện và không có lực điện từ nên mô men bằng không. Muốn có mô men dẫn động tải, rôto bắt buộc phải quay chậm hơn từ trường để duy trì sự cắt đường sức từ, tức là duy trì hệ số trượt s>0. Đây là ràng buộc vật lý cơ bản của loại máy điện này.

Câu hỏi 2: Hệ số trượt định mức của động cơ không đồng bộ thông thường là bao nhiêu?

Hệ số trượt định mức của động cơ không đồng bộ thông thường nằm trong khoảng $0,01 \div 0,06$ (tức 1% đến 6%). Các động cơ công suất lớn có hệ số trượt nhỏ hơn (khoảng 1-2%), trong khi các động cơ công suất nhỏ có hệ số trượt lớn hơn (khoảng 4-6%). Ví dụ, một động cơ ghi $n_{đm} = 1440$ vòng/phút với $f = 50$ Hz và $P = 2$ đôi cực có $n_1 = 1500$ vòng/phút, suy ra $s = 4\%$.

Câu hỏi 3: Sự khác nhau cơ bản giữa động cơ rôto lồng sóc và rôto dây quấn là gì?

Rôto lồng sóc có dây quấn ngắn mạch cố định, cấu tạo đơn giản, bền, rẻ nhưng không thể thay đổi điện trở mạch rôto. Rôto dây quấn có thể đưa điện trở phụ vào mạch rôto qua vành trượt và chổi than, nhờ đó cải thiện mô men khởi động và điều chỉnh tốc độ, nhưng cấu tạo phức tạp, bảo trì tốn kém hơn. Trong thực tế, rôto lồng sóc chiếm phần lớn thị phần do chi phí thấp và ít yêu cầu bảo trì.

Câu hỏi 4: Tại sao động cơ không đồng bộ một pha không thể tự khởi động

Nguồn điện một pha chỉ tạo ra từ trường đập mạch, có thể phân tích thành hai thành phần từ trường quay ngược chiều có biên độ bằng nhau. Ở trạng thái đứng yên (s=1), mô men do hai từ trường này tạo ra bằng nhau về độ lớn và ngược chiều nên triệt tiêu nhau, tổng mô men bằng không. Vì vậy cần có thêm cuộn dây phụ kết hợp với tụ điện hoặc điện trở để tạo lệch pha, sinh ra thành phần từ trường quay một chiều chiếm ưu thế để tạo mô men khởi động ban đầu.

Câu hỏi 5: Tiêu chuẩn IE trong động cơ điện không đồng bộ có ý nghĩa gì?

IE (International Efficiency) là tiêu chuẩn quốc tế theo IEC 60034-30 phân loại hiệu suất năng lượng của động cơ không đồng bộ ba pha hạ áp trong dải công suất 0,75–375 kW. Có bốn cấp IE1 (tiêu chuẩn), IE2 (cao), IE3 (đặc biệt) và IE4 (siêu cao). Việc nâng cấp lên IE3 giúp tiết kiệm điện năng đáng kể trong suốt vòng đời động cơ và là yêu cầu bắt buộc tại EU từ năm 2017 đối với động cơ không có biến tần.

Câu hỏi 6: Biến tần có vai trò gì khi kết hợp với động cơ không đồng bộ?

Biến tần (inverter) thay đổi tần số nguồn $f_1$ cấp vào stato, qua đó thay đổi tốc độ đồng bộ $n_1 = 60f_1/P$ và kéo theo tốc độ rôto thay đổi theo. Đây là phương pháp điều chỉnh tốc độ vô cấp, hiệu suất cao và êm ái nhất cho động cơ không đồng bộ, khắc phục được nhược điểm điều chỉnh tốc độ kém của loại động cơ này khi không có biến tần. Khi kết hợp với động cơ IE2 hoặc IE3, hệ thống biến tần - động cơ đáp ứng được đồng thời yêu cầu tiết kiệm năng lượng và điều khiển linh hoạt.

Xem thêm bài viết liên quan:

Chia sẻ bài viết

BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ