Tóm tắt nội dung

Để làm rõ hơn về các dịch vụ truyền thông, mục này giới thiệu về MMS (Manufacturing Message Specification), một chuẩn quốc tế cho việc xây dựng lớp ứng dụng theo mô hình quy chiếu OSI. Chuẩn này có ý nghĩa đặc biệt trong các hệ thống truyền thông công nghiệp. Về cơ bản, MMS quy định một tập hợp các dịch vụ chuẩn cho việc trao đổi dữ liệu thời gian thực cũng như thông tin điều khiển giám sát. Các dịch vụ này cũng như các giao thức tương ứng được chuẩn hóa trong ISO/IEC 9506.
1. MMS là gì ?
MMS có xuất xứ từ MAP (Manufacturing Automation Protocol), một giao thức do hãng General Motors khởi xướng phát triển vào đầu những năm 80. Mặc dù MAP không trở thành giao thức truyền thông thống nhất cho công nghiệp tự động hóa, nó đã tác động có tính chất định hướng tới các phát triển sau này.
Trên cơ sở của MAP, các dịch vụ truyền thông đã được định nghĩa trong MMS tạo cơ sở quan trọng trong việc xây dựng lớp Các dịch vụ được định nghĩa trong MMS có tính chất thông dụng và đa dạng, có thể thích hợp với rất nhiều loại thiết bị, nhiều ứng dụng và ngành công nghiệp khác nhau.
Ví dụ, dịch vụ Read cho phép một chương trình ứng dụng hoặc một thiết bị đọc một hoặc nhiều biến một lúc từ một chương trình ứng dụng hoặc một thiết bị khác. Bất kể một thiết bị là PLC hay robot, một chương trình điều khiển tự động hay chương trình điều khiển giám sát, các dịch vụ và thông báo MMS đều như nhau.
Hơn 80 dịch vụ truyền thông thông dụng cho các hệ thống bus, trong đó có kiểm soát đường nối, truy nhập biến, điều khiển sự kiện, cài đặt và can thiệp chương trình
Một giao thức qui định cấu trúc dữ liệu cho việc chuyển giao tham số của các dịch vụ
Mô hình một số đối tượng “ảo”, đại diện cho các đối tượng vật lý (máy móc, robot,..)
Một cơ chế Client/Server trong quan hệ giữa các đối tác truyền thông.
Chuẩn ISO/IEC 9506 bao gồm hai phần cốt lõi sau:
- Phần 1: Đặc tả dịch vụ, định nghĩa mô hình thiết bị sản xuất ảo VMD (Virtual Manufacturing Device), các dịch vụ trao đổi giữa các nút mạng, các thuộc tính cũng như tham số tương ứng với VMD và các dịch vụ.
- Phần 2: Đặc tả giao thức, định nghĩa trình tự các thông báo được gửi đi trong mạng, cấu trúc và kiểu mã hóa các thông báo, tương tác giữa MMS với các lớp khác trong mô hình OSI. MMS sử dụng chuẩn lớp biểu diễn dữ liệu ASN.1 (Abstract Notation Number One – ISO 8824) để đặc tả cấu trúc các thông báo.
2. Đặc trưng của MMS
Một trong những điểm đặc trưng của MMS là mô hình đối tượng VMD. Trên quan điểm hướng đối tượng, mô hình VMD cho phép các thiết bị đóng vai trò một server, cung cấp các dịch vụ cho các client thông qua các đối tượng ảo. Các đối tượng ảo này đại diện cho những đối tượng khác nhau trong một hệ thống kỹ thuật, trong đó có cả các biến, chương trình, sự kiện, v.v… Mỗi chương trình ứng dụng có thể đồng thời đóng vai trò server và client. Mô hình VMD định nghĩa các đối tượng sau:
- VMD: Bản thân VMD được coi là một đối tượng hợp thành từ các đối tượng khác, đại diện cho toàn bộ một thiết bị.
- Domain: Đại diện một phần nhớ có liên kết trong một VMD, ví dụ phần nhớ cho một chương trình có thể nạp xuống (download) và nạp lên (upload) được.
- Program Invocation: Một chương trình chạy trong bộ nhớ chính được hợp thành bởi một hoặc nhiều domain.
- Variable: Một biến dữ liệu có kiểu (ví dụ số nguyên, số thực dấu phẩy động, mảng).
- Kiểu: Mô tả cấu trúc và ý nghĩa của dữ liệu chứa trong một biến.
- Named Variable List: Một danh sách nhiều biến có tên.
- Semaphore: Một đối tượng dùng để kiểm soát việc truy nhập cạnh tranh một tài nguyên chung (ví dụ bộ nhớ, CPU, cổng vào/ra)
- Operator Station: Một trạm có màn hình và bàn phím dùng cho thao tác viên vận hành quá trình.
- Event Condition: Một đối tượng đại diện cho trạng thái của một sự kiện
- Event Action: Một đối tượng đại diện hành động được thực hiện khi trạng thái của một sự kiện thay đổi
- Event Enrollment: Một đối tượng đại diện cho một chương trình ứng dụng mạng được thông báo khi khi trạng thái của một sự kiện thay đổi.
- Journal: Một đối tượng ghi lại diễn biến của các sự kiện và biến theo thời gian.
- File: Một file trong một trạm server.
- Transaction: Đại diện một yêu cầu dịch vụ MMS riêng biệt.
Xem thêm: Kiến trúc giao thức TCP IP trong mạng truyền thông
BÀI VIẾT CÙNG CHỦ ĐỀ
Trong quá trình vận hành và bảo trì mạng lưới điện, việc đảm bảo an toàn tuyệt đối cho con người là ưu tiên hàng đầu. Khi xảy ra sự cố rò rỉ điện hoặc đứt dây dẫn rơi xuống đất, dòng điện tản [...]
Trong hệ thống điện, việc tính toán chính xác các thông số về tổn hao là yêu cầu tiên quyết để đảm bảo tính kinh tế và kỹ thuật. Hiểu rõ phương pháp tính tổn thất điện năng và điện áp không chỉ giúp [...]
Trong quá trình thiết kế và vận hành hệ thống điện, việc lựa chọn chế độ nối đất mạng điện 3 pha là một quyết định kỹ thuật cực kỳ quan trọng. Tùy thuộc vào cấp điện áp, chiều dài đường dây và yêu [...]
Điện năng là nền tảng cốt lõi chi phối sự phát triển của nền công nghiệp và đời sống hiện đại. Để tạo ra nguồn năng lượng này, các kỹ sư dựa vào các thiết bị chuyển đổi cơ năng thành điện năng, được [...]
Bài viết này sẽ phân tích chuyên sâu về tụ điện và cảm ứng điện từ, cung cấp góc nhìn đa chiều từ cấu tạo vật lý, đặc điểm hoạt động cho đến các phương trình toán học chi tiết, giúp người đọc củng [...]
Khi dòng điện xoay chiều di chuyển qua mạch, năng lượng được phân bổ và chuyển hóa dưới nhiều hình thức khác nhau. Bài viết này sẽ phân tích chuyên sâu về các loại công suất, cách thiết lập tam giác công suất, cũng [...]
Trong lĩnh vực kỹ thuật điện và vật lý, điện trở đóng vai trò là một trong những thông số nền tảng thiết yếu nhất để cấu thành nên bất kỳ mạch điện nào. Việc nắm vững khái niệm điện trở là gì, các [...]
Trong thế giới vật lý, điện trường và từ trường là hai khái niệm nền tảng tạo nên tương tác điện từ – một trong bốn tương tác cơ bản của tự nhiên. Hiểu rõ bản chất của các dạng vật chất này không [...]
Trong kỷ nguyên công nghiệp hóa và hiện đại hóa, các khái niệm cơ bản về vật lý điện đóng vai trò cốt lõi trong cả đời sống sinh hoạt lẫn sản xuất kỹ thuật. Dù chúng ta tiếp xúc và sử dụng các [...]
Trong tất cả các loại máy điện quay, động cơ không đồng bộ là loại được sử dụng rộng rãi nhất, đặc biệt là động cơ không đồng bộ 3 pha. Điều này là do động cơ có cấu tạo đơn giản, bền bỉ, [...]
